Day học phù hợp với đối tượng học sinh - Tham luận Tổ Vật Lý tại Hội thảo nâng cao chất lượng giáo dục 2018

Thành viên:Hồ Tiến Gặp     Bài viết: 60
Thứ hai - 15/01/2018 09:27
Với tinh thần và trách nhiệm của mỗi thầy cô giáo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nên đến thời điểm hiện tại Tổ Vật Lý cơ bản đã hoàn thành nhiệm vụ được lãnh đạo nhà trường giao, nhất là công tác giảng dạy.
Day học phù hợp với đối tượng học sinh - Tham luận Tổ Vật Lý tại Hội thảo nâng cao chất lượng giáo dục 2018
THAM LUẬN
Day học phù hợp với đối tượng học sinh; năm học 2017 - 2018
Tổ Vật lý – Công nghệ có 07 thầy cô và đảm nhiệm 03 môn trong nhà trường (Vật lý; CN 11, 12 và Điện dân dụng 11B5-8), tất cả thầy cô đều phải tham gia công tác kiêm nhiệm ngoài nhiệm vụ dạy lớp và có thầy cô phải thực hiện “03 giáo án”.
Với tinh thần và trách nhiệm của mỗi thầy cô giáo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nên đến thời điểm hiện tại cơ bản đã hoàn thành nhiệm vụ được lãnh đạo nhà trường giao, nhất là công tác giảng dạy.
Sau đây chúng tôi xin nêu ra thực trạng, nguyên nhân và đề ra giải pháp dạy học phù hợp đối tượng học sinh, nhằm nâng cao chất lượng bộ môn Vật lý trong thời gian tới.
I. THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN
- Căn cứ vào kết quả giảng dạy HK1 của bộ môn Vật lý:
+ KTHK1: có 93,53% HS >=3,5, trong đó 52,46% HS >=6,5 (khá - giỏi); có 6,47% HS <3,5 (Kém) tập trung chủ yếu ở K10 (24 HS) và K12 (22 HS)
+ TBM: có 98,88% HS>=3,5, trong đó có 54,24% HS >=6,5 (khá - giỏi); có 1,12% HS <3,5 (Kém) tập trung chủ yếu ở K10 (8/10 em). Kết quả này bước đầu tạm được, nhưng so với môn Hóa (0,33%) thì tỉ lệ học sinh Kém còn cao (10/3).
+ Hầu hết các lớp không có học sinh lệch 2,0 giữa điểm TBM và KTHK, nếu có chỉ một vài em cho toàn trường (24 lớp). Điều này thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá thường xuyên của GV và đánh giá định kỳ của Tổ, của nhà trường.
- Xét về kết quả học tập chúng ta nhận thấy chất lượng bộ môn Vật lý đạt yêu cầu đề ra, nhưng xét về ý thức học tập hằng ngày của mỗi lớp (đặc biệt K10 và K12) cũng có rất nhiều vấn đề gây khó cho mỗi thầy cô trong Tổ như:
(1) Học sinh chưa chủ động trong việc học, có phần ỷ lại (không cần học bài, làm bài đến kiểm tra vẫn đạt kết quả tốt); nhiều HS chưa có mục tiêu rõ ràng, chỉ đi cho có, lười học, ham chơi (có đi đến trường, có ngồi trong lớp nhưng không có suy nghĩ cho việc học).
(2) Bên cạnh đó nhiều em có cố gắng học, nhưng kiến thức nền bị hỏng (chuyển vế chưa rành, không giải được phương trình bậc nhất bằng mọi cách) và gặp áp lực học tập ở nhiều môn nên cảm thấy rất mệt mỏi.
(3) Hiện nay học sinh bị tác động bởi xã hội rất mạnh, có thể nói các em chịu ảnh hưởng gia đình và nhà trường khoảng 10%, nhưng xã hội ảnh hưởng đến các em đến 90% và việc sử dụng điện thoại vào những việc không có ích dẫn đến các em thích thế giới ảo hơn là thế giới thực.
(4) Một số thầy cô giáo chậm đổi mới cách dạy cho phù hợp với thực tế học sinh như dạy lướt, chưa khai thác tích cực phương tiện và thiết bị hiện có, giao nhiều bài tập,… Nên các em cũng gặp áp lực, không hứng thú vào việc học.
(5)Một số thầy cô chưa có sự quan tâm, động viên, tạo động lực cho HS.
II. GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI
Từ thực trạng và những nguyên nhân như trên tập thể Tổ đề ra một số giải pháp để thực hiện trong thời gian tới như sau:
(1) Mỗi thầy cô giáo phải tự học, tự nghiên cứu để hoàn thiện bản thân mình hằng ngày; cố gắng đổi mới cách dạy để phù hợp với đa số học sinh; khai thác triệt để thiết bị và phương tiện dạy học một cách tích cực nhất (không lạm dụng) để kích thích hứng thú học tập cho các em.
(2) Soạn giảng phải phù hợp vừa sức, bám sát vào chuẩn kiến thức kỹ năng và chú trọng đến trọng tâm của bài (của chương), không gây áp lực cho các em;tìm hiểu hoàn cảnh của HS, bỏ suy nghĩ “môn mình là nhất”; từ đó tạo bầu không khí học tập nhẹ nhàng, thoải máivà luôn động viên về mặt tinh thần cho các em.
(3) Hướng dẫn chậm, nói ngắn gọn, cụ thể chi tiết, nhấn mạnh trọng tâm cho các em lặp lại nhiều lần để khắc sâu ngay tại lớp;giao nhiệm vụ cho học sinh khá giỏi hướng dẫn cho từng nhóm học sinh yếu kém mỗi nhóm 4 học sinh. Nhóm tự chọn học sinh hướng dẫn nhóm mình nếu 4 học sinh nầy tiến bộ GV cộng điểm cho học sinh hướng dẫn.
(4) Không nhất thiết bắt buộc học sinh học thuộc lòng từng câu, từng từng chữ.Hướng dẫn cho học sinh cách học bài từ công thức phát biểu định nghĩa;
(5) Giao nhiệm vụ theo từng đối tương học sinh. Đối với HS yếu kém chung talàm như sau: lý thuyết chỉ cần hỏi 01 định nghĩa (khái niệm) nêu ví dụ hoặc viết công thức, nếu HS chưa thuộc có thể hạ thấp xuống nữa. Bài tập chỉ cần làm lại các bài tập cơ bản mà lớp đã giải xong.
(6) Tăng cường giáo dục ý thức học tập cho các em, hướng dẫn các em xác định mục tiêu trong học tập, để các em có động lực vượt qua khó khăn trong học tập và hạn chế các tác động không tích cực của xã hội và mạng xã hội;thực hiện hài hòa giữa “dạy chữ”“dạy làm người”
(7) Phối hợp chặt chẽ với GVCN; quản lý tốt tiết dạy của mình, không để các em làm việc riêng, đặc biệt ngồi học phải đúng tư thế,nếu thấy HS “mệt” cho giải lao.
(8) Đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng: gắn kiến thức giáo khoa với thực tế đời sống, phát huy năng lực học tập của các em và tăng tính phân loại cho mỗi đề kiểm tra.
 

Tác giả bài viết: Tổ Vật lý

Nguồn tin: Tổ Vật Lý trường THPT Thống Linh

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây